Đàn ghita của Lorca

Đàn ghita của Lorca là bài thơ Thanh Thảo Trước khi nghe những phân tích, hãy cùng đọc chậm qua lời thơ để cảm nhận những câu từ trong đó.\ CÂY ĐÀN GHITA CỦA LORCA Sáng tác: Thanh Tùng – Hình Phước Liên Thơ Thanh Thảo Trình bày: Thanh Nam. ********************************* Mặt trời hồng trên […]

Đàn ghita của Lorca là bài thơ Thanh Thảo

Trước khi nghe những phân tích, hãy cùng đọc chậm qua lời thơ để cảm nhận những câu từ trong đó.\

CÂY ĐÀN GHITA CỦA LORCA

Sáng tác: Thanh Tùng – Hình Phước Liên
Thơ Thanh Thảo
Trình bày: Thanh Nam.
*********************************

Mặt trời hồng trên cát nóng Es-pa-nha
Là tiếng đàn ghi ta của Lorca
Giọt lệ nào ướt đẫm áo chòang đỏ thắm Es-pa-nha
Hay giọt buồn ghi ta của Lorca..

Tìm lại vần thơ tranh đấu Es-pa-nha
Nhặt tiếng đàn ghi ta của Lorca
Dặm đường dài với những nỗi buồn
Người vũ nữ di gan hát lên bài ca tranh đấu của Lorca.

Bay đi xa đi xa
Tiếng đàn ghi ta của Lorca
Bay đi xa đi xa
Lời thơ tranh đấu Es-pa-nha.

Vang vang trong tim ta
Tiếng đàn ghi ta của Lorca
Vang vang trong tim ta
Lời thơ tranh đấu Es-pa-nha.

Lorca Gascia
Anh đã chết với cây đàn ghi ta.

Lorca Gascia
Lời anh vang mãi trong tâm hồn chúng ta
Trong trái tim của những người yêu nước
Và trong mắt xanh của bao niềm mơ ước
Trong bước chân người vũ nữ
Và trong tiếng ca người nghệ sỹ giang hồ.

Nếu tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn ghi ta !!!!!!

ĐÀN GHI TA CỦA LORCA
Thơ:Thanh Thảo
(Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn
Ph.G.Lorca)

Những tiếng đàn bọt nước.
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt.
Li-la-li-la-li-la.
đi lang thang về miền đơn độc.
với vầng trăng chếnh choáng.
trên yên ngựa mỏi mòn

Tây Ban Nha.
hát nghêu ngao.
bỗng kinh hoàng.
áo choàng bê bết đỏ.
Lor-ca bị điệu về bãi bắn.
chàng đi như người mộng du

tiếng ghi ta nâu.
bầu trời cô gái ấy.
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy.
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan.
tiếng ghi ta ròng ròng.
máu chảy.
không ai chôn cất tiếng đàn.
tiếng đàn như cỏ mọc hoang.
giọt nước mắt vầng trăng.
long lanh trong đáy giếng

đường chỉ tay đã đứt.
dòng sông rộng vô cùng.
Lor-ca bơi sang ngang.
trên chiếc ghi ta màu bạc.
chàng ném lá bùa cô gái Di-gan.
vào xoáy nước.
chàng ném trái tim mình.
vào lặng yên bất chợt.
li-la-li-la-li-la…

 

  1. Nhà thơ Thanh Thảo:

– Một trí thức nhiều suy tư, trăn trở về các vấn đề xã hội và thời đại.

– Muốn cuộc sống được cảm nhận và thể hiện ở chiều sâu nên luôn khước từ lối biểu đạt dễ dãi; đào sâu vào cái tôi nội cảm, tìm kiếm những cách biểu đạt mới qua hình thức câu thơ tự do, giải phóng mọi ràng buộc nhằm mở đường cho một cơ chế liên tưởng phóng khoáng, xoá những khuôn sáo bằng những nhịp điệu bất thường, đem đến cho thơ một mĩ cảm hiện đại bằng hệ thống hình ảnh và ngôn từ mới mẻ.

– Kiểu tư duy: giàu suy tư, mãnh liệt, phóng túng trong xúc cảm và nhuốm màu sắc tượng trưng siêu thực.

+ Tượng trưng: tìm vào trạng thái tâm hồn với những linh cảm được khơi dậy từ vô thức, cho rằng hiện tượng trong vũ trụ tồn tại như những dấu hiệu tượng trưng cho bản chất huyền bí của tạo vật mà chỉ riêng nhà thơ mới có những thiên bẩm kì diệu để thâm nhập và biểu đạt được những hình ảnh tượng trưng ấy. Thơ là một thứ “siêu cảm giác”, không thể giải thích được. Không cần có hình tượng rõ nét, thơ được quan niệm như một bản hoà âm hoàn hảo. Dường như có nét tương đồng giữa sinh sôi của tạo hoá với sự sáng tạo thơ ca.

+ Siêu thực: Hướng tới một hiện thực cao hơn thực tại. Thế giới siêu thực chỉ có thểcảm thấy trong giấc mơ, trong tiềm thức, lúc đãng trí, thần kinh suy nhược, rối loạn. Khám phá thế giới ấy, nghệ sĩ sẽ phát hiện ra những điều sâu kín mà thiêng liêng, bí ẩn mà chính xác trong cuộc sống con người. Đề cao yếu tố tâm linh và sự ngẫu hứng, sáng tác thường được cấu thành bởi những dòng liên tưởng tiềm thức rời rạc, gi¸n c¸ch, không thể khắc hoạ được những bức tranh thực tại toàn vẹn.

  1. Phêđêricô Gaxia Lorca (1898-1936)

– Là một trong những tài năng sáng chói của văn học hiện đại Tây Ban Nha.

– Trước một Tây Ban Nha – dưới sự cai trị của chế độ độc tài- đã trở nên phản động về chính trị và già cỗi về nghệ thuật, Lorca đã nồng nhiệt cổ vũ nhân dân đấu tranh với mọi thế lực áp chế, đòi quyền sống chính đáng đồng thời cũng khởi xướng và thúc dẩy mạnh mẽ những cách tân trong lĩnh vực nghệ thuật. Lorca đã tự nguyện làm người du ca đi lang thang với cây đàn ghita hát lên những bài ca lãng tử, dùng tiếng đàn giãi bày nôĩ đau buồn và niềm khát vọng yêu thương của nhân dân.

– Ông đã bị chế độ phản động cực quyền thân phát xít bắt giam và bắn chết. Cái chết thảm khốc của Lỏca đã dâng lên một làn sóng phẫn nộ hết sức mạnh mẽ trên thế giới với bè lũ Phrăngcô. Tên tuổi của Lorca trở thành biểu tượng chống chue nghiac phát xít, bảo vệ văn hoá dân tộc và văn minh nhân loại.

  1. Hoàn cảnh ra đời và mục đích sáng tác bài thơ “Đàn ghita của Lorca”
  2. Hoàn cảnh:

– Được viết liền mạch trong khoảng thời gian rất ngắn, sau khi ngồi chơi và đàn đạo về thơ Lorca với những người bạn tâm đắc -> kết quả của ấn tượng và nhận thức sâu sắc của Lorca.

– LORCA là nhà thơ mà Thanh Thảo rất ngưỡng mộ. Cả thơ ca, cuộc đời và cái chết của Lorca đã gây cho tác giả những xúc cảm và ấn tượng. Chính những hình ảnh và nhạc điệu trong nhiều bài thơ của Lorca đã dẫn dắt Thanh Thảo khi viết “Đàn ghita của Lorcaorca”

=>  Kết quả của cuộc gặp gỡ về cảm xúc, giọng điệu và hình ảnh (sự gặp gỡ của hồn thơ)

– Từng được biết đến Tây Ban Nha qua những tác phẩm của Hêminguê- một nhà văn Mĩ, lại đọc thơ Lorca từ khi còn trẻ, hình ảnh Tây Ban Nha và hình ảnh trong những câu thơ Lorca đã lặn sâu vào tâm trí và trở thành một ám ảnh để khi viết bài thơ, nó bật ra một cách hoàn toàn tự nhiên.

=>  kết quả sự thăng hoa của vô thức và ám ảnh về con người, cuộc đời và thơ Lorcaorca- một con hoạ mi Tây Ban Nha.

Có một ý kiến của Nguyễn Đình Thi mà tôi rất tâm đắc, đó là:“Điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cái nghĩa của nó, ngoài công dụng gọi tên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến xung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, toả ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy. Sức mạnh nhất của câu thơ là ở sức gợi ấy.” (Mấy ý nghĩ về thơ, Ngữ văn 12 Nâng cao, tập một, trang 52)
Chính nhà thơ đã kiến tạo nên một thế giới giàu sức gợi từ những ngôn ngữ ta khả dĩ thường gặp. Tài năng của nhà thơ không gì khác hơn là làm cho “mỗi tiếng, mỗi chữ” trong đời thường “bỗng tự phá tung mở rộng” làm “tỏa ra… một vùng ánh sáng động đậy”. Thơ càng hay, càng giàu khả năng tạo ra “vùng ánh sáng động đậy”, đồng nghĩa với tiềm tàng “sức gợi”. Và điều đó hẳn nhiên cũng không dễ cho người tiếp nhận. Song, với những bài thơ hay, người tiếp nhận càng có động lực đi đến cùng, chạm đến đáy, dẫu điều ấy không hề dễ dàng. Đàn ghi-ta của Lor-ca của Thanh Thảo là một thi phẩm như thế.
Có mặt trong sách Ngữ văn 12, bài thơ Đàn ghi-ta của Lor-ca ngay lập tức thu hút sự quan tâm của thầy cô giáo bộ môn và cả học sinh bởi vẻ “lạ”của nó. Là người sẽ truyền tải các giá trị văn bản đến học sinh, các thầy cô giáo dạy môn Ngữ văn vừa thích thú, vừa ngại ngần trước sắc diện mới mẻ, độc đáo mà hàm chứa không ít “ngã rẽ bất ngờ” của bài thơ. Làm thế nào để học sinh hiểu, nắm được cái giá trị nội dung, nghệ thuật cơ bản của bài thơ mà thực tế không ít giá trị trong đó là không dễ để nắm và hiểu, ngay cả với thầy cô giáo giảng dạy ?
Cuốn Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng đã góp phần gỡ “rối” cho không ít thầy cô đứng lớp, định hướng cho các khai phá giá trị để không trở nên quá đà, quá tầm với học sinh. Song, sự phân định kiến thức, kĩ năng dành riêng cho từng chương trình Chuẩn vàNâng cao vẫn chưa thật rõ ràng, gây không ít băn khoăn cho người giảng dạy.
Với thiển ý của người viết, các gợi ý ở cuốn Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng nên chăng cần tăng thêm mạch ý, mạch kiến thức cho chương trình Nâng cao, góp phần truyền tải hết chiều sâu, chiều rộng của bài thơ, tương xứng với yêu cầu nâng cao của ban học ?
Trở lại với chiều sâu và sức gợi của bài thơ Đàn ghi-ta của Lor-ca, đã có không ít những phân tích, đánh giá giá trị văn bản. Người viết không có tham vọng đưa ra một kiến giải mới mẻ nào, chỉ mong muốn tìm đến những đóng góp của Thanh Thảo ở chừng mực người giảng dạy Ngữ văn có thể trao cho học sinh mà không sợ là quá tầm, quá đà, vừa đáp ứng chuẩn kiến thức – kĩ năng, vừa góp phần thúc đẩy năng lực sáng tạo trong các em học sinh.

1. Cấu trúc:
Với cấu trúc tinh tế song không khó để nhận ra, bảy khổ của bài thơ tự thân đã có bốn ý lớn với các nội dung lần lượt là:
– 6 dòng đầu (khổ 1): khắc họa hình ảnh Lor-ca trên hành trình lí tưởng.
– 12 dòng tiếp (khổ 2 và 3): tái hiện cái chết bi thảm, dữ dội của Lor-ca.
– 4 dòng tiếp (khổ 4): thể hiện sự xót thương, nuối tiếc những dở dang của Lor-ca trong cuộc đời và nghệ thuật.
– 9 dòng cuối (khổ 5, 6, 7): suy tư về cuộc giải thoát và cách giã từ cuộc sống của Lor-ca.
Đối với kết cấu này, chúng tôi nghiêng về định hướng cùng với những kiến giải của sách giáo khoa và sách giáo viên chương trình Chuẩn. Sách giáo khoa và sách giáo viên chương trình Nâng cao chưa thật chú trọng việc lí giải vấn đề này. Theo chúng tôi, giúp học sinh nắm bắt và lí giải sự liên kết nội tại, tìm ra mạch ngầm của tứ thơ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần quyết định thành công của giờ dạy đọc hiểu văn bản.
Mở đầu bài thơ là khổ thơ một khắc họa hình ảnh Lor-ca như một sự định vị các phẩm chất, không, tố chất nội tại: Lor-ca – người nghệ sĩ, ca sĩ dân gian Tây Ban Nha tự do nhưng đơn độc trên hành trình lí tưởng, cũng là trên hành trình nghệ thuật.
Tiếp theo, khổ hai là bước ngoặt bi thảm trên hành trình thân phận của một con người trần thế – Lor-ca bị sát hại trong bi phẫn tột cùng. Kết nối khổ một và khổ hai là sự đối lập. Đối lập với tự do là bạo tàn, đối lập với ngoại cảnh giàu thi hứng (vầng trăng, yên ngựa) là bối cảnh kinh hoàng, rùng rợn (áo choàng bê bết đỏ, bãi bắn).
Kế đó là khổ ba gắn kết với khổ hai trong một chuỗi hệ lụy (1) từ cái chết đầy bi phẫn của Lor-ca (áo choàng bê bết đỏ, tiếng ghi-ta ròng ròng máu chảy).
Khổ bốn kết nối với khổ ba bằng chuỗi hệ lụy (2). Nếu hệ lụy (1) nêu ý trực diện – sự đau thương, vỡ tan thì hệ lụy (2) lại gợi đến những hàm ý thẳm sâu – sự dang dở những khát vọng cách tân tư tưởng, cách tân nghệ thuật (không ai chôn cất tiếng đàn/ tiếng đàn như cỏ mọc hoang).
Cận kết là khổ năm – sáu trình bày những suy tư chiết xuất từ hệ lụy (1) và (2). Đó là sự chiêm nghiệm được giải thoát, cách giã từ thân phận người một cách rất … Lorca.
Kết thúc bài thơ là dòng thơ, cũng là chuỗi thanh âm li-la li-la li-la đứng riêng, đứng tách biệt nhưng thật lạ là không hề chênh vênh. Ngược lại, dòng thanh âm ấy thật sự đối trọng với toàn bộ hình thể trước đó của bài thơ, bởi đó là dư ba của bài thơ, cũng là dư ba của một phận người, một kiếp đời nghệ sĩ. Âm thanh ấy là do Lor-ca để lại cho hậu thế hay chính là do nhân thế tấu lên khúc du ca tiễn biệt người con tài hoa bạc mệnh đi vào cõi vĩnh hằng? Âu là cả hai vậy.
Mặc dù nhà thơ Thanh Thảo đã từng chia sẻ: “Cũng như nhiều bài thơ ngắn khác của tôi, bài Đàn ghi-ta của Lor-ca được viết liền một mạch, trong một khoảng thời gian rất ngắn” và “Bài thơ được viết rất nhanh, hầu như không sửa chữa gì thêm (…) tôi viết bài thơ trong trạng thái không nghĩ ngợi gì, một trạng thái mà vô thức chiếm lĩnh tôi trọn vẹn”.
Song chắc chắn có một linh cảm nghệ thuật khó lí giải được đã khiến từ ngữ gọi từ ngữ, nhịp điệu đẩy đưa nhịp điệu (Thanh Thảo) và bài thơ nên hình nên vóc, có sự gắn kết ý và tình kì diệu đến mức nhà thơ cũng đã thẳng thắn: “(…) hỏi tôi có gửi lời tri âm hay kí thác nào vào bài thơ ấy không, tôi xin trả lời rất thật là tôi không biết”.
Nhà thơ không biết, nhưng linh cảm nghệ thuật biết. Thực ra, sâu thẳm và chìm khuất trong thi phẩm, để làm nên sự gắn kết về cấu trúc, hẳn phải có sự góp mặt của chiều sâu tâm hồn và tư tưởng từ tác giả. Vì thế, ngay ở phần Tìm hiểu chung nhiệm vụ người thầy là phải giới thiệu đầy đủ phong cách thơ của tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Đây chính là một trong những điều then chốt giúp học sinh nắm được và có những luận giải tinh tế, sâu xa về cấu trúc tác phẩm.

2. Hình ảnh:
“Hình ảnh của thơ là hình ảnh thực nảy lên trong tâm hồn khi ta sống trong một cảnh huống hoặc trạng thái nào đấy. Hình ảnh còn tươi nguyên, bao giờ cũng mới mẻ, đột ngột lạ lùng” (Nguyễn Đình Thi).
Đích thực là thế với nhiều hình ảnh trong Đàn ghi-ta của Lorca. Ví như “áo choàng đỏ gắt” (màu đỏ của xứ bò tót), “vầng trăng chếnh choáng” (bởi nhìn qua mắt người say), “yên ngựa mỏi mòn” (trên dặm đường thiên lý), “áo choàng bê bết đỏ” (bởi loạt đạn của những kẻ thủ ác)…
Song bên cạnh vẻ thực một cách rất đời ấy, Thanh Thảo còn kiến tạo nên một loạt hình ảnh mà thoạt nghe, ta đã biết khó lòng kiến giải thấu đáo. Nào là “tiếng đàn bọt nước, tiếng ghi-ta nâu, tiếng ghi-ta xanh, tiếng ghi-ta tròn, tiếng ghi-ta ròng ròng máu chảy”, nào là “không ai chôn cất tiếng đàn, tiếng đàn như cỏ mọc hoang, giọt nước mắt vầng trăng, đường chỉ tay đã đứt, dòng sông rộng “… Hẳn nhiên ở đây, nên chăng ta cần hình dung đã có sự giao thoa giữa âm và ảnh, khiến âm giai đấy (tiếng đàn) mà chất chứa bao tố chất của thi ảnh (bọt nước, nâu, xanh, tròn…) ?
Với bản chất là các thủ pháp tiêu biểu của thơ siêu thực như ẩn dụ, biểu trưng, chuyển đổi cảm giác; có sự kết hợp với lối cấu trúc đặc thù (từ bỏ hình thức thẳng chuyển sang hình thức nổi, sử dụng lối viết kết hợp chữ nghĩa và phân tích câu theo một trật tự mới; tất cả dựa trên quan niệm thẩm mĩ và triết lí gián đoạn (rất gần với lối nghệ thuật sắp đặt đương đại), thơ Thanh Thảo nói chung, bài Đàn ghi-ta của Lor-ca nói riêng ít nhiều đã tạo được ấn tượng trong mắt người đọc, nhất là về hình ảnh.
Song nếu nói rằng: “quan niệm thẩm mĩ và triết lí gián đoạn, đối lập với quan niệm thẩm mĩ đối ngẫu, song song hay tuyến tính” (Sách Giáo viên Ngữ văn 12, tập một, trang 161) thì e rằng phải cân nhắc ít nhiều, chí ít là với Thanh Thảo và bài Đàn ghi-ta của Lor-ca.
Trong thiển ý của người viết bài này, mặc dù có sắp đặt, có gián đoạn rất Tây, Thanh Thảo vẫn là một nhà thơ phương Đông, nhà thơ Việt Nam. Vì thế bài thơ vẫn còn dấu vết của các thi ảnh đối ngẫu (áo choàng đỏ/ tiếng ghi-ta nâu/ tiếng ghi-ta xanh...); các thi ảnh song song (tiếng đàn/ tiếng ghi-ta/ chiếc ghi-ta …); các thi ảnh tuyến tính (tiếng đàn bọt nước/ tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan, áo choàng đỏ gắt/áo choàng bê bết đỏbọt nước/ dòng sông/ bơi/ xoáy nước…) chỉ có điều các thi ảnh Thanh Thảo không dễ để nhận biết.
Có một góc độ nữa mà người thầy cần chia sẻ với học sinh, đó là khi xây dựng các hình ảnh trong bài thơ, Thanh Thảo đã cố tình mở ra trường nghĩa “liên văn bản” khi tái sử dụng một số thi ảnh và thi liệu của chính Lor-ca. Ví như câu thơ “không ai chôn cất tiếng đàn” là ảnh chiếu của câu thơ bất hủ trong bài Ghi nhớ“khi nào tôi chết/ hãy vùi vùi xác tôi cùng cây đàn/ dưới lớp cát”; hình ảnh “áo choàng đỏ gắt” là phiên bản của hình ảnh trong thơ Lor-ca: “con ngựa đen/ vầng trăng đỏ”; câu thơ trùng điệp cú pháp: “ném là bùa/ ném trái tim” được tái tạo từ câu thơ: “Hãy ném trái chanh nho nhỏ ấy/ vào gió”.
Thanh Thảo đã muốn dùng lại một số hình ảnh có biến cải của Lor-ca và thật sự đã dùng rất đắt.
Có một hình ảnh mà người viết cố tình đặt cuối mục này, bởi nó là sự giao thoa giữa hình ảnh và âm thanh, đó là chuỗi từ “li-la li-la li-la”. Đọc dòng thơ thứ ba ở khổ đầu, sau đó được điệp nguyên ở kết bài, tách riêng thành một đoạn, bất giác người đọc ngỡ mình như đang nghe một giai điệu.
Song như Thanh Thảo thổ lộ, nét hình mới là giá trị đầu tiên của chuỗi từ đó: “Hoa li-la (hoa ly, hoa huệ tây, hoa tử đinh hương) thì không chỉ có ở Tây Ban Nha, nhưng dường như nó đã đi vào một tác phẩm nào đó viết về Tây Ban Nha mà tôi nhớ”.
Và ông mở luôn giá trị liên tưởng nhạc điệu của chuỗi từ: “Với lại, li-la còn gợi âm thanh như một cú “vê” ghi-ta”.

3. Nhạc điệu:
Đây vừa là nhạc tính hữu dạng, được nhìn nhận như là nội tố tất yếu của thơ, cũng vừa là một nét riêng của thơ Thanh Thảo, trong đó có bài Đàn ghi-ta của Lor-ca.
Cùng với thể thơ tự do, Thanh Thảo đã chọn một lối đi gập ghềnh cho các dòng thơ, cũng là cho tiết tấu, nhịp điệu thơ. Và tất nhiên, hiểu được, cảm được nhạc của thơ, nhạc của Đàn ghi-ta của Lor-ca cũng đồng nghĩa với việc phải nỗ lực thật sự mới mong chạm được thứ nhịp điệu bên trong của tình ý, tâm ý vốn đa dạng, biến hình – đặc biệt là với thơ siêu thực.
Ngoài tất cả những yếu tố thường kì của nhạc tính được tận dụng như vần, nhịp, các thủ pháp điệp, láy, bài thơ còn có sự cố tình của Thanh Thảo khi dùng lại một vài đề tài nhạc trong thơ của Lor-ca. Bản thân thơ Lor-ca đã thấm đẫm chất nhạc dân gian An-đa-lu-xi-a của Tây Ban Nha. Và chất nhạc ấy đã được trung chuyển đến Đàn ghi-ta của Lor-ca bởi sự ám ảnh đậm đặc rồi thăng hoa trong Thanh Thảo.
Trên đây là một vài ý kiến góp phần giúp giáo viên giảng dạy bài thơ Đàn ghi-ta của Lor-ca của Thanh Thảo một cách rõ ràng, thuyết phục hơn. Hi vọng nhận được sự góp ý của quý thầy cô và độc giả.

Nguồn: http://guitartaylor.com/dan-ghita-cua-lorca.html

Gửi bình luận

Become a first comment for this post!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *